Minh Phương

Minh Phương

Bế mạc Trại sáng tác Bình Thuận 2019 tại Đà Nẵng

Ngày 29/8/2019 Nhà sáng tác Đà Nẵng đã phối hợp với Hội văn học nghệ thuật tỉnh Bình Thuận tổ chức bế mạc Trại sáng tác văn học nghệ thuật năm 2019.

Dự bế mạc có ông Nguyễn Đức Hòa - Phó chủ tịch, phụ trách Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Bình Thuận, ông Nguyễn Song Hiển - Giám đốc Nhà sáng tác Đà Nẵng, cùng các thành viên tham gia Trại sáng tác.

bemacbinhthuant8 2019

Tại buổi bế mạc, ông Nguyễn Đức Hòa đã phát biểu bế mạc Trại sáng tác, đề cao tinh thần làm việc hăng say nhưng cũng rất nghiêm túc của các văn nghệ sĩ. Thay mặt các văn nghệ sĩ dự trại, ông Võ Việt Khuê đã báo cáo tổng kết các hoạt động sáng tác, số lượng và đánh giá chất lượng các tác phẩm. Với 92 tác phẩm, trong đó bao gồm: 70 tác phẩm văn học, 10 tác phẩm âm nhạc, 05 tác phẩm văn học dân gian, 06 tác phẩm hội họa và 01 tác phẩm sân khấu, trại sáng tác được đánh giá là thành công. Công tác tổ chức Trại sáng tác cũng được đánh giá cao. Tập thể cán bộ, nhân viên Nhà sáng tác Đà Nẵng đã rất nhiệt tình, chu đáo trong công tác đón tiếp, phục vụ các văn nghệ sĩ, tạo điều kiện thuận lợi nhất để các văn nghệ sĩ tập trung sáng tác.

bemacbinhthuant8 2019 1

Trại sáng tác đã diễn ra từ ngày 16/8/2019 đến hết ngày 30/8/2019 với sự tham gia của 15 văn nghệ sĩ là hội viên của Hội văn học nghệ thuật tỉnh Bình Thuận.

Kế hoạch tổ chức các Trại sáng tác của Trung tâm Hỗ trợ sáng tác văn học nghệ thuật tại các Nhà sáng tác trong tháng 9/2019

Trong tháng 9/2019, Trung tâm Hỗ trợ sáng tác văn học nghệ thuật tổ chức các Trại sáng tác tại các Nhà sáng tác trực thuộc trung tâm.

I. Nhà sáng tác Tam Đảo:

1. DANH SÁCH HỘI VIÊN HỘI NGHỆ SĨ SÂN KHẤU HÀ NỘI
DỰ TRẠI SÁNG TÁC TẠI NHÀ SÁNG TÁC TAM ĐẢO
(16/9/2019 - 30/9/2019)
(Quyết định số:221 /QĐ - TTHTSTVHNT ngày 21 tháng 8 năm 2019)
 
STT Họ và tên văn nghệ sỹ Chuyên ngành Năm sinh Dân tộc
1 Ngọc Thụ Sân khấu 1946 Kinh
2 Đăng Tiến Sân khấu 1952 Kinh
3 Vân Kim Sân khấu 1948 Kinh
4 Thanh Liễu Sân khấu 1946 Kinh
5 Phạm Hữu Huề Sân khấu 1948 Kinh
6 Trần Trí Trắc Sân khấu 1943 Kinh
7 Chu Lai Sân khấu 1947 Kinh
8 Hoàng Đức Nhuận Sân khấu 1945 Kinh
9 Lê Thu Hạnh Sân khấu 1959 Kinh
10 Nguyễn Giang Phong Sân khấu 1944 Kinh
11 Đỗ Diệp Khang Sân khấu 1942 Kinh
12 Xuân Cải Sân khấu 1954 Kinh
13 Trần Chỉnh Sân khấu 1953 Kinh
14 Trịnh Quang Khanh Sân khấu 1941 Kinh
15 Lê Quý Hiền Sân khấu 1953 Kinh

II. Nhà sáng tác Đại Lải:

1. DANH SÁCH HỘI VIÊN HỘI VHNT CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM
DỰ TRẠI SÁNG TÁC TẠI NHÀ SÁNG TÁC ĐẠI LẢI
(03/9/2019 - 17/9/2019)
(Quyết định số: 192/QĐ - TTHTSTVHNT ngày 08 tháng 8 năm 2019)
 
STT Họ và tên văn nghệ sỹ Chuyên ngành Năm sinh Dân tộc
1 Đinh Thiên Vương Âm nhạc 1962 H’rê
2 Phạm Minh Đát Âm nhạc 1969 H’rê
3 Krajan Dick Âm nhạc 1962 Kơho
4 Nguyễn Xuân Hoàn Văn học 1964 Cao Lan
5 Vũ Văn Viết Âm nhạc 1949 Kinh
6 Hoàng Thị Chiến Mỹ thuật 1961 Cao Lan
7 Nguyễn Thăng Văn học 1949 Kinh
8 Phạm Xuân Cừ VNDG 1950 Thái
9 Trần Thị Liên VNDG 1953 Kinh
10 Nguyễn Thị Cẩm Hương Văn học 1955 Kinh
11 Bàn Thị Quỳnh Dao VNDG 1977 Dao
12 Hoàng Quảng Uyên Văn học 1950 Tày
13 Nguyễn Quang Huynh Văn học 1950 Tày
14 Hà Đông Dương Văn học 1956 Tày
15 Lộc Bích Kiệm Văn học 1962 Tày

III. Nhà sáng tác Đà Nẵng:

1. DANH SÁCH HỘI VIÊN HỘI VHNT CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM
DỰ TRẠI SÁNG TÁC TẠI NHÀ SÁNG TÁC ĐÀ NẴNG
(16/9/2019 - 30/9/2019)
(Quyết định số:225/QĐ - TTHTSTVHNT ngày 27 tháng 8 năm 2019)
 
STT Họ và tên văn nghệ sỹ Chuyên ngành Năm sinh Dân tộc
1 Nguyễn Bích Thuận Văn học 1957 Tày
2 Nguyễn Hữu Tiến Văn học 1952 Tày
3 Hoàng Tuấn Cư VNDG 1950 Kinh
4 Hà Quang Phùng VNDG 1949 Mường
5 Nguyễn Trần Bé Văn học 1960 Kinh
6 Chu Ngọc Phan Văn học 1950 Kinh
7 Đỗ Nhật Minh Văn học 1949 Kinh
8 Phạm Huy Định Văn học 1950 Kinh
9 Phạm Quỳnh Loan Văn học 1967 Kinh
10 Nguyễn Thanh Bình Văn học 1954 Kinh
11 Lê Lâm Văn học 1952 Kinh
12 Nguyễn Hoàng Thu Văn học 1949 Kinh
13 Vi Nước Âm nhạc 1950 Tày
14 Hoàng Cẩm Thạch Văn Xuôi 1954 Kinh

IV. Nhà sáng tác Nha Trang:

1. DANH SÁCH VĂN NGHỆ SĨ - BẢO TÀNG LỊCH SỬ QUÂN SỰ VIỆT NAM
DỰ TRẠI SÁNG TÁC TẠI NHÀ SÁNG TÁC NHA TRANG
(01/9/2019 - 15/9/2019)
(Quyết định số: 140/QĐ - TTHTSTVHNT ngày 10 tháng 6 năm 2019)
 
STT Họ và tên văn nghệ sỹ Chuyên ngành Năm sinh Dân tộc
1 Nguyễn Đức Quang Mỹ thuật 1972 Kinh
2 Nguyễn Tăng Hoàn Mỹ thuật 1977 Kinh
3 Bùi Quang Đức Mỹ thuật 1957 Kinh
4 Xuân Thành Mỹ thuật 1953 Kinh
5 Bùi Anh Hùng Mỹ thuật 1965 Kinh
6 Phạm Sinh Mỹ thuật 1960 Kinh
7 Nguyễn Thăng Long Mỹ thuật 1974 Kinh
8 Vi Thị Hoa Mỹ thuật 1968 Kinh
9 Vũ Đại Bình Mỹ thuật 1959 Kinh
10 Kim Xuân Mỹ thuật 1951 Kinh
11 Vương Học Báo Mỹ thuật 1950 Kinh
12 Lê Đình Bảo Mỹ thuật 1962 Kinh
13 Hoa Bích Đào Mỹ thuật Kinh
14 Phạm Quốc Anh Mỹ thuật 1965 Kinh
15 Phạm Hào Mỹ thuật 1955 Kinh

2. DANH SÁCH VĂN NGHỆ SĨ – HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT LÀO CAI
DỰ TRẠI SÁNG TÁC TẠI NHÀ SÁNG TÁC NHA TRANG
(16/9/2019 - 30/9/2019)
(Quyết định số: 169/QĐ - TTHTSTVHNT ngày 24 tháng 7 năm 2019)

STT Họ và tên văn nghệ sỹ Chuyên ngành Năm sinh Dân tộc
1 Mã Anh Lâm Văn học 1973 Kinh
2 Nguyễn Thành Long Nhiếp ảnh 1978 Kinh
3 Nguyễn Văn Tông Văn học 1952 Kinh
4 Lê Thị Lượng Mỹ thuật 1973 Kinh
5 Trần Anh Tuấn Mỹ thuật 1958 Kinh
6 Vàng Thung Chúng VNDG 1959 Nùng
7 Dương Tuấn Nghĩa VNDG 1976 Kinh
8 Phạm Gia Chiến Nhiếp ảnh 1966 Kinh
9 Đặng Viết Xuyên Văn học 1966 Kinh
10 Thào Thị Minh Tâm Nhiếp ảnh 1980 Mông
11 Lý Tự Đức Âm nhạc 1978 Kinh
12 Trần Thị Thúy Văn học 1974 Kinh
13 Nguyễn Chung Kiên Nhiếp ảnh 1984 Kinh
14 Nguyễn Huy Hảo Nhiếp ảnh 1966 Kinh
15 Nguyễn Bình An Nhiếp ảnh 1970 Kinh

V. Nhà sáng tác Đà Lạt:

1. DANH SÁCH HỘI VIÊN HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT THANH HÓA
DỰ TRẠI SÁNG TÁC TẠI NHÀ SÁNG TÁC ĐÀ LẠT
(05/9/2019 - 19/9/2019)
(Quyết định số: 171/QĐ - TTHTSTVHNT ngày 25 tháng 7 năm 2019)
 
STT Họ và tên văn nghệ sỹ Chuyên ngành Năm sinh Dân tộc
1 Hà Thị Cẩm Anh Văn học 1948 Mường
2 Nguyễn Huy Sức Văn học 1944 Kinh
3 Bùi Lâm Bằng Văn học 1959 Kinh
4 Lê Văn Sự Văn học 1949 Kinh
5 Đỗ Hoài Nam Âm nhạc 1958 Kinh
6 Nguyễn Đồng Tâm Âm nhạc 1952 Kinh
7 Trần Xuân Quang Mỹ thuật 1978 Kinh
8 Trần Xuân Tý Mỹ thuật 1984 Kinh
9 Hỏa Diệu Thúy Văn học 1961 Kinh
10 Trần Thị Liên VNDG 1956 Kinh
11 Cao Giáng Hương Sân khấu 1960 Kinh
12 Nguyễn Đăn Văn Điện ảnh 1955 Kinh
13 Phạm Đắc Hải Múa 1985 Kinh
14 Nguyễn Thế Dung Nhiếp ảnh 1958 Kinh
15 Lê Bá Dũng Nhiếp ảnh 1957 Kinh

2. DANH SÁCH HỘI VIÊN HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT HẢI DƯƠNG
DỰ TRẠI SÁNG TÁC TẠI NHÀ SÁNG TÁC ĐÀ LẠT
(16/9/2019 - 30/9/2019)
(Quyết định số: 144/QĐ - TTHTSTVHNT ngày 20 tháng 6 năm 2019)
 
STT Họ và tên văn nghệ sỹ Chuyên ngành Năm sinh Dân tộc
1 Nguyễn Văn Thường Kiến trúc 1958 Kinh
2 Phạm Tuấn Hoành Kiến trúc 1950 Kinh
3 Nguyễn Huy Đồng Kiến trúc 1961 Kinh
4 Nguyễn Đức Toàn Nhiếp ảnh 1959 Kinh
5 Phạm Ánh Sao Văn học 1952 Kinh
6 Nguyễn Thị Bích Văn xuôi 1950 Kinh
7 Khúc Kim Tính Văn xuôi 1952 Kinh
8 Hạ Quang Long Mỹ thuật 1978 Kinh
9 Nguyễn Đức Toàn Mỹ thuật 1960 Kinh
10 Đinh Thị Thu Mai Mỹ thuật 1981 Kinh
11 Hà Thị Hương Thanh Mỹ thuật 1984 Kinh
12 Trần Ngọc Minh Âm nhạc 1959 Kinh
13 Trương Thị Thương Huyền Văn học 1973 Kinh
14 Trần Thị Xuyến Văn học 1977 Kinh
15 Trần Phương Hạnh Sân khấu 1985 Kinh

VI. Nhà sáng tác Vũng Tàu:

 
1. DANH SÁCH HỘI VIÊN HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT NAM ĐỊNH
DỰ TRẠI SÁNG TÁC TẠI NHÀ SÁNG TÁC VŨNG TÀU
(04/9/2019 - 13/9/2019)
(Quyết định số: 130/QĐ - TTHTSTVHNT ngày 22 tháng 5 năm 2019)
 
STT Họ và tên văn nghệ sỹ Chuyên ngành Năm sinh Dân tộc
1 Nguyễn Công Thành Văn học 1955 Kinh
2 Vũ Xuân Dương Mỹ thuật 1956 Kinh
3 Trần Đắc Trung Văn học 1947 Kinh
4 Phạm Trường Thi Văn học 1947 Kinh
5 Mai Tiến Nghị Văn học 1954 Kinh
6 Lã Thanh An Văn học 1962 Kinh
7 Nguyễn Ích Bình Văn học 1967 Kinh
8 Trần Xuân Tuyết Văn học 1958 Kinh
9 Trần Văn Hưng Nhiếp ảnh 1981 Kinh
10 Phạm Thanh Bình Nhiếp ảnh 1950 Kinh
11 Đào Quang Sân khấu 1956 Kinh
12 Quang Chí Sân khấu 1954 Kinh
13 Nguyễn Minh Cường Mỹ thuật 1980 Kinh
14 Lương Văn Phương Mỹ thuật 1975 Kinh
15 Đặng Ngọc Độ Âm nhạc 1955 Kinh
16 Phạm Hồng Nhân Âm nhạc 1945 Kinh
17 Trần Văn Sản Nhiếp ảnh 1963 Kinh
18 Phan Thị An Ninh Nhiếp ảnh 1971 Kinh
19 Trần Đình Khoa Nhiếp ảnh 1973 Kinh
20 Nguyễn Phương Thảo Mỹ thuật 1995 Kinh
21 Mai Thanh Văn học 1947 Kinh

2. DANH SÁCH HỘI VIÊN HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT BẮC NINH
DỰ TRẠI SÁNG TÁC TẠI NHÀ SÁNG TÁC VŨNG TÀU
(10/9/2019 - 24/9/2019)
(Quyết định số: 155/QĐ - TTHTSTVHNT ngày 03 tháng 7 năm 2019)
 
STT Họ và tên văn nghệ sỹ Chuyên ngành Năm sinh Dân tộc
1 Đỗ Văn Phong VNDG 1977 Kinh
2 Nguyễn Thái Sơn Văn học 1955 Kinh
3 Trần Phan Nhiếp ảnh 1955 Kinh
4 Thượng Luyến Sân khấu 1944 Kinh
5 Lê Khanh Văn học 1957 Kinh
6 Nguyễn Văn Hào Văn học 1959 Kinh
7 Nguyễn Chiêu Nghênh Âm nhạc 1957 Kinh
8 Trần Hùng Viện Âm nhạc 1984 Kinh
9 Vũ Thế Bạch VNDG 1953 Kinh
10 Hoàng Anh Nhiếp ảnh 1974 Kinh
11 Trung Kiên Nhiếp ảnh 1970 Kinh
12 Minh Châu Mỹ thuật 1953 Kinh
13 Phạm Hiển Văn học 1947 Kinh
14 Nguyễn Đình Tự Văn học 1945 Kinh
15 Nguyễn Xuân Tường Văn học 1947 Kinh

3.DANH SÁCH HỘI VIÊN HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT TÂY NINH
DỰ TRẠI SÁNG TÁC TẠI NHÀ SÁNG TÁC VŨNG TÀU
(18/9/2019 - 02/10/2019)
(Quyết định số: 178 /QĐ - TTHTSTVHNT ngày 31 tháng 7 năm 2019)
 
STT Họ và tên văn nghệ sỹ Chuyên ngành Năm sinh Dân tộc
1 Đặng Thị Phượng Sân khấu 1957 Kinh
2 Lê Hữu Trịnh Âm nhạc 1960 Kinh
3

Lê Thị Thu Hương

(Nhất Phượng)

Văn học 1957 Kinh
4 Nguyễn Quốc Đông Âm nhạc 1957 Kinh
5 Lục Quốc Hiệp Âm nhạc 1965 Kinh
6 Đỗ Thành Phương Sân khấu 1963 Kinh
7 Từ Văn Tài Sân khấu 1959 Kinh
8 Nguyễn Khắc Luân Văn học 1957 Kinh
9 Lê Thị Thu Hương Văn học 1964 Kinh
10 Nguyễn Phú Nhuận Văn học 1967 Kinh
11 Nguyễn Thị Kim Liên Văn học 1964 Kinh
12 Nguyễn Văn Bình Mỹ thuật 1950 Kinh
13 Phạm Trường An Mỹ thuật 1991 Kinh
14 Huỳnh Long Tiến Nhiếp ảnh 1956 Kinh
15 Lâm Công Danh Nhiếp ảnh 1969 Kinh

Bế mạc Trại sáng tác Điện Biên 2019 tại Đà Nẵng

Ngày 21/8/2019 Nhà sáng tác Đà Nẵng đã phối hợp với Hội văn học nghệ thuật tỉnh Điện Biên tổ chức bế mạc Trại sáng tác văn học nghệ thuật năm 2019.

Dự bế mạc có ông Nguyễn Khải Hoàn - Trưởng phòng Hỗ trợ hoạt động sáng tác Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Điện Biên, ông Nguyễn Song Hiển - Giám đốc Nhà sáng tác Đà Nẵng cùng các thành viên tham gia Trại sáng tác.

bemacdienbient8 2019

Trong buổi bế mạc ông Nguyễn Khải Hoàn đã báo cáo đánh giá tổng kết các hoạt động sáng tác, số lượng và chất lượng tác phẩm. Các văn nghệ sĩ cũng đã có những phát biểu đánh giá cao về tập thể cán bộ, nhân viên Nhà sáng tác Đà Nẵng đã nhiệt tình, chu đáo trong việc hỗ trợ Trại sáng tác văn học nghệ thuật tỉnh Điện Biên hoàn thành tốt nhiệm vụ.

bemacdienbient8 2019 1

Trại sáng tác diễn ra từ ngày 07/8/2019 đến hết ngày 21/8/2019 với sự tham gia của 14 văn nghệ sĩ là hội viên của Hội văn học nghệ thuật tỉnh Điện Biên. Trong thời gian tổ chức Trại sáng tác, các văn nghệ sĩ đã tổ chức đi thực tế sáng tác tại một số danh thắng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, tỉnh Quảng Nam và giao lưu văn hoá nghệ thuật, trao đổi kinh nghiệm với các văn nghệ sĩ địa phương.

Trại sáng tác đã thu về 50 tác phẩm, trong đó bao gồm: 20 tác phẩm văn học, 15 tác phẩm văn học dân tộc thiểu số, 02 tác phẩm văn học dân gian, 12 tác phẩm nhiếp ảnh và 01 tác phẩm sân khấu.

Khai mạc Trại sáng tác văn học nghệ thuật Bình Thuận 2019 tại Đà Nẵng

Ngày 16/8/2019 Nhà sáng tác Đà Nẵng đã phối hợp với Hội văn học nghệ thuật tỉnh Bình Thuận tổ chức khai mạc Trại sáng tác văn học nghệ thuật năm 2019.

Dự khai mạc có ông Đặng Lê Thế Phi - Phó Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Bình Thuận, ông Nguyễn Song Hiển - Giám đốc Nhà sáng tác Đà Nẵng cùng các thành viên tham gia Trại sáng tác.

khaimacbinhthuant8 2019

Ông Đặng Lê Thế Phi đã thay mặt Lãnh đạo Hội văn học nghệ thuật tỉnh Bình Thuận phát biểu khai mạc, theo đó đã yêu cầu các văn nghệ sĩ nâng cao tinh thần trách nhiệm, tích cực, sáng tạo để hoàn thành tốt nhiệm vụ sáng tác mà Lãnh đạo Hội văn học nghệ thuật đã giao. 

Thay mặt Nhà sáng tác Đà Nẵng, ông Nguyễn Song Hiển đã phát biểu chào mừng đoàn văn nghệ sĩ của Hội văn học nghệ thuật tỉnh Bình Thuận và mong các văn nghệ sỹ sẽ có một khoảng thời gian làm việc cũng như sinh hoạt có chất lượng cao tại Nhà sáng tác Đà Nẵng.

khaimacbinhthuant8 2019 1

Theo kế hoạch, Trại sáng tác diễn ra từ ngày 16/8/2019 đến hết ngày 30/8/2019 với sự tham gia của 15 văn nghệ sĩ là hội viên của Hội văn học nghệ thuật tỉnh Bình Thuận, thuộc các chuyên ngành: văn học, âm nhạc, mỹ thuật và sân khấu.

Khai mạc Trại sáng tác văn học nghệ thuật Điện Biên 2019 tại Đà Nẵng

Ngày 08/8/2019 Nhà sáng tác Đà Nẵng đã phối hợp với Hội văn học nghệ thuật tỉnh Điện Biên tổ chức khai mạc Trại sáng tác văn học nghệ thuật năm 2019.

Dự khai mạc có ông Nguyễn Khải Hoàn - Trưởng phòng Hành chính tổng hợp - Trưởng phòng Hỗ trợ hoạt động sáng tác, Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Điện Biên, ông Nguyễn Song Hiển - Giám đốc Nhà sáng tác Đà Nẵng và các thành viên tham gia Trại sáng tác.

khaimacdienbient8 2019

Khách mời dự khai mạc có nghệ sĩ Ông Văn Sinh - Phó Chủ tịch Liên hiệp các hội văn học nghệ thuật thành phố Đà Nẵng, nghệ sĩ Đinh Thị Hựu - Chủ tịch Hội văn nghệ dân gian thành phố Đà Nẵng, nghệ sĩ Khôi Nguyên - Chủ tịch Hội nghệ sĩ nhiếp ảnh thành phố Đà Nẵng.

Tại buổi khai mạc, ông Nguyễn Song Hiển đã có bài phát biểu chào mừng các văn nghệ sỹ tỉnh Điện Biên đến với Nhà sáng tác Đà Nẵng. Ông chúc các văn nghệ sỹ sẽ có một Trại sáng tác thành công về mọi mặt, cho ra đời nhiều tác phẩm có chất lượng cao. Thay mặt toàn thể nhân viên Nhà sáng tác Đà Nẵng, ông hứa sẽ đảm bảo mọi nhu cầu ăn nghỉ của các văn nghệ sỹ ở mức tốt nhất, để các văn nghệ sỹ có thể toàn tâm toàn ý trong hoạt động sáng tác của mình.

khaimacdienbient8 2019 1

Theo kế hoạch, Trại sáng tác diễn ra từ ngày 07/8/2019 đến hết ngày 21/8/2019 với sự tham gia của 15 văn nghệ sĩ là hội viên của Hội văn học nghệ thuật tỉnh Điện Biên, thuộc các chuyên ngành: văn học, nhiếp ảnh và văn nghệ dân gian

Kế hoạch tổ chức các Trại sáng tác của Trung tâm Hỗ trợ sáng tác văn học nghệ thuật tại các Nhà sáng tác trong tháng 8/2019

Trong tháng 8/2019, Trung tâm Hỗ trợ sáng tác văn học nghệ thuật  tổ chức các Trại sáng tác tại các Nhà sáng tác trực thuộc trung tâm.

I. Nhà sáng tác Nha Trang:

1. DANH SÁCH VĂN NGHỆ SỸ ĐI SÁNG TÁC CHUYÊN SÂU
(16/8/2019 - 30/8/2019)
(Quyết định số: 72 /QĐ - TTHTSTVHNT ngày 26 tháng 3 năm 2019)
 
STT Họ và tên  văn nghệ sỹ Chuyên ngành Năm sinh Dân tộc
1 NSND Huy Quang Sân khấu Kinh

II. Nhà sáng tác Đà Nẵng:

1. DANH SÁCH HỘI VIÊN HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT ĐIỆN BIÊN
DỰ TRẠI SÁNG TÁC TẠI NHÀ SÁNG TÁC ĐÀ NẴNG
(07/8/2019 - 21/8/2019)
(Quyết định số: 170 /QĐ - TTHTSTVHNT ngày 24 tháng 7 năm 2019)

STT Họ và tên văn nghệ sỹ Chuyên ngành Năm sinh Dân tộc
1 Nguyễn Khải Hoàn Nhiếp ảnh 1978 Kinh
2 Phạm Thị Xuân Châu Văn học 1970 Kinh
3 Hoàng Gia Minh Nhiếp ảnh 1990 Kinh
4 Nguyễn Thị Thu Thủy Văn học 1974 Kinh
5 Tòng Văn Hân VHDG 1972 Thái
6 Lò Sơn Tinh VHDG 1959 Thái
7 Phạm Việt Đức Văn học 1976 Kinh
8 Nguyễn Thị Thảo Văn học 1962 Kinh
9 Lò Thị Hoa VHDG 1966 Thái
10 Trương Hữu Thiêm Văn học 1951 Kinh
11 Lò Ngọc Duyên VHDG 1942 Thái
12 Hoàng Thị Hải Phượng Văn học 1965 Thái
13 Đỗ Quang Khải Văn học 1952 Kinh
14 Lò Ngọc Thuyên VHDG 1982 Thái
15 Đỗ Hoài Sơn Nhiếp ảnh 1965 Kinh

2. DANH SÁCH HỘI VIÊN HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT BÌNH THUẬN
DỰ TRẠI SÁNG TÁC TẠI NHÀ SÁNG TÁC ĐÀ NẴNG
(16/8/2019 - 30/8/2019)
(Quyết định số: 145 /QĐ - TTHTSTVHNT ngày 21 tháng 6 năm 2019)

STT Họ và tên văn nghệ sỹ Chuyên ngành Năm sinh Dân tộc
1 Đặng Lê Thế Phi Văn học 1968 Kinh
2 Hồ Việt Khuê Văn học 1952 Kinh
3 Bành Thị Lài (Thái Thị Ngân Khang) Văn học 1963 Kinh
4 Kinh Duy Trịnh Văn học 1956 Chăm
5 Võ Minh Chiến Văn học 1973 Kinh
6 Nguyễn Duy Sinh Văn học 1945 Kinh
7 Trần Yên Thế Văn học 1949 Kinh
8 Nguyễn Dũng Văn học 1952 Kinh
9 Lương Văn Lễ Văn học 1970 Kinh
10 Huỳnh Ngọc Châu (Hải Âu) Văn học 1958 Kinh
11 Huỳnh Thanh Tô Mỹ thuật 1957 Kinh
12 Nguyễn Ngọc Sâm Mỹ thuật 1961 Kinh
13 Nguyễn Hồng Phước Âm nhạc 1958 Kinh
14 Nguyễn Huy Nhân Âm nhạc 1985 Kinh
15 Trần Duệ Sân khấu 1960 Kinh

Chùm thơ của Hoàng Việt - Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật Việt Nam

Chùm thơ của Hoàng Việt - Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật Việt Nam, sáng tác tại Nhà sáng tác Đà Nẵng tháng 7/2019

TỪ PHÍA NÚI

Nơi ấy là văn hóa núi
những ngôi nhà dài như con thuyền vươn khơi xa
có tiếng chiêng mùa cũ lạc qua
khét cháy thịt rừng thâu đêm lễ hội
những chiều mưa đường mịt mù tung bụi
bà mẹ Gia-rai địu con về từ phía núi
sầm sập cơn mưa, sầm sập trời tối
địu con về buôn mẹ cõng cả mặt trời
 
tiếng tù và thúc vang lòng thung con suối
bức tượng nhà mồ khóc cười giữa đại ngàn
gửi lại hồn mình sau lưng là núi
dốc Đỏ mồ côi !

HOÀI  NIỆM

Anh chạm phải con đường ngày cũ
Có dây bí mùa khô héo rũ
Đêm nhớ em
Con mắt buồn
Con mắt không biết ngủ.
Anh chạm phải con đường lên rẫy cũ
Rẫy cũ bỏ hoang
Anh tìm về vắng chủ
Ở chòi giữ lúa, anh hát ting-ting*
Anh chạm phải nắng hanh một thuở
Hoa Pơlang đỏ cả lưng gùi
Anh gọi tên rừng núi
Mùa lễ hội
Pơ-thi.

* Một điệu dân ca trữ tình quen thuộc của người Xê-đăng

BÀI HÁT CHO CÁNH ĐỒNG - Truyện ngắn của Đào An Duyên – Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật Việt Nam

Truyện ngắn của Đào An Duyên – Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật Việt Nam, sáng tác tại Nhà sáng tác Đà Nẵng tháng 7/2019.

BÀI HÁT CHO CÁNH ĐỒNG

Mẹ sinh tôi vào một ngày cuối thu, khi bông lúa ngoài đồng đã bắt đầu biết cúi mình soi nhìn nơi mình bám rễ. Mẹ ấp iu tôi trong đôi bàn tay ngày ngày mẹ thoăn thoắt gặt hái cấy cày. Tôi như củ khoai củ sắn, lớn lên bên mẹ và mênh mang ruộng đồng.

Trong kí ức của mình, tôi không thể nhớ nổi mẹ tôi đã từng mang đôi dép như thế nào, bởi quanh năm mẹ đi chân đất. Những móng chân mẹ bị bám phèn ố vàng, gót chân mẹ nứt nẻ vì cả ngày ngâm dưới đất bùn, nhất là về mùa đông, những chỗ nứt ấy có khi còn rớm máu. Bàn tay mẹ cũng vậy, những móng tay nhuốm phèn cũng ngả vàng, lòng bàn tay chai sần và thô ráp. Việc nhà nông chẳng lúc nào nhàn rỗi. Mẹ thường ra đồng từ khi chưa rõ mặt người, và trở về khi gà đã lên chuồng. Thời gian mẹ ở ngoài đồng ruộng nhiều hơn thời gian mẹ ở nhà.

Ngôi nhà bây giờ mẹ tôi đang ở không phải ngôi nhà đã sinh ra chúng tôi, nhưng lại là ngôi nhà gắn với rất nhiều kỉ niệm của mẹ. Lần nào tôi về với mẹ cũng vào thời điểm bóng núi đã trùm lên phủ sẫm cả cánh đồng. Cánh đồng ven chân núi, sát một khu rừng. Thời điểm tôi về bao giờ cũng là lúc chim chóc kéo nhau về tổ, chúng kêu hót vang cả một khu vực rộng lớn. Và đặc biệt nhất là những cánh cò trắng, chúng vẫn chao lên liệng xuống, lò dò kiếm ăn giữa đồng lúa trong khi các loài chim khác đã trở về tổ.

Ngôi nhà của mẹ nằm giữa bốn bề gió đồng, từ phía nào cũng thấy màu xanh mát tầm mắt. Ngôi nhà có vườn cây ao cá, có giếng nước mát lành, có hương hoa phảng phất, lại có cả sóng lúa vỗ về ngay sát vách bếp. Mẹ vẫn như tự khi tôi sinh ra đã thấy, sáng nào cũng dậy thật sớm. Việc đầu tiên mẹ làm khi bắt đầu một ngày mới là nhóm bếp lửa. Có lẽ đây là thói quen truyền đời của những người phụ nữ thôn quê như mẹ. Giờ không phải lịch kịch nấu cám lợn hay vần một nồi cơm vùi vào than bếp như thuở hàn vi, giờ đã có nồi điện bếp gaz, nhưng mẹ tôi vẫn giữ thói quen nhóm bếp, chỉ để đặt lên đó một ấm nước. Chiếc ấm, qua thời gian đã bị muội than bám dày lớp lớp, ngay cả phần bên trong ấm cũng ngả màu đen đúa, nước nấu trong chiếc ấm ấy mang cả vị của khói. Tôi thích ngồi bên mẹ trong những sớm mai, bên bếp lửa, mẹ vẫn nói với tôi đủ thứ chuyện trên đời, những chuyện có khi mẹ nói đi nói lại hàng trăm lần, nhưng tôi vẫn lặng im nghe từng lời. Mẹ cứ thủ thỉ cho đến khi ấm nước lục bục sôi, nước trào cả ra ngoài. Trong những lời thủ thỉ của mẹ có gió đồng thao thiết thổi về, và ngay bên vách bếp, lúa cũng thức dậy lao xao sóng lá.

Những câu chuyện bên bếp lửa của mẹ phần nhiều gợi nhắc tôi nhớ về quê hương. Tôi nhớ ngôi nhà có bức tường bằng đất sét, bức vách trát bằng rơm trộn bùn bị thủng một lỗ đúng vừa người chúng tôi chui lọt. Những trưa hè nắng nóng như đổ lửa, chúng tôi trốn mẹ chui qua cái lỗ thủng ấy, bơi qua bên kia sông. Bàn chân chúng tôi mê mải chạy trên những bờ cỏ xanh trải dài ngút tầm mắt. Nắng hun cho da chúng tôi đen cháy, nắng đốt tóc chúng tôi vàng hoe, cỏ sắc cứa vào chân rát xót. Vậy mà đôi chân chúng tôi vẫn mê mải trên cánh đồng nắng hạ. Tôi đã nhiều lần trở lại bờ sông ấy, chỉ có một mình, không có mẹ và em tôi. Tôi ngồi lặng thật lâu nghe gió xao xác thổi lên từ mặt sông. Dưới chân tôi, nước vẫn vỗ ì oạp, trước mặt tôi, phía bên kia sông, vẫn là cánh đồng mướt xanh. Chỉ khác là tôi bây giờ không phải tôi của một ngày đã trôi qua rất lâu trong kí ức.

Lần nào về với mẹ, tôi cũng lang thang rất lâu trên cánh đồng, cánh đồng đẹp nhất vào buổi sớm bình minh và lúc mặt trời lặn. Mặt trời ở đây thức dậy sớm hơn và đi ngủ cũng muộn hơn mặt trời thành phố, tôi cảm nhận chủ quan như vậy. Mặt trời ở phía núi, rọi những tia nắng mềm như tơ vào mỗi sớm mai. Tôi đặt bàn chân trần lên cỏ, cỏ ram ráp dưới chân tôi, và bên cỏ là lúa, cũng mướt xanh trong nắng sớm. Gió lùa vào tóc tôi, mơn man trên mặt tôi mát rượi. Tôi nhắm mắt hít căng vào lồng ngực mình hương lúa, hương cỏ, cả mùi bùn đất quyện vào với nắng và gió. Hình như trở về với ruộng đồng, tôi mới thực là mình.

Có những ngày lòng quá đỗi chông chênh, tôi bỏ lại sau lưng mình những ồn ào bụi bặm, thói quen cũ đưa chân tôi đến một cánh đồng nào đó. Tôi đã từng ước mình có thể vẽ. Lại cũng đã từng ước mình có thể viết nhạc. Nếu vẽ được, tôi sẽ vẽ lại cánh đồng luôn ăm ắp trong trí nhớ tôi, những màu sắc sẽ ào ạt tuôn ra trên đầu cọ. Màu xanh của lúa đang thì con gái, từng sóng lúa uốn lượn gối lên nhau chạy dài theo gió; màu vàng của những bông lúa chín uốn cong mình nặng trĩu trong nắng gợi vẻ no ấm và bao dung; màu trắng của những thân cò lặn lội kiếm ăn trong bóng chiều chạng vạng; và màu nâu sậm của dòng sông mang nặng phù sa ôm ấp lấy cả cánh đồng… Nếu có thể viết nhạc, tôi sẽ kí lại những âm thanh vọng về từ mỗi nhịp thở của cánh đồng ấy. Từ âm thanh lao xao của gió, tiếng rì rào của những đợt sóng lúa, tiếng ì oạp của sóng nước vỗ vào triền con sông nhỏ, tiếng giật mình vỗ cánh rất nhẹ vào không trung của một thân cò, tiếng ri rích của côn trùng vọng lên từ cỏ… Những màu sắc, âm thanh ấy luôn chật căng trong đầu tôi, như lúc nào cũng chỉ chực tuôn trào ra nếu có thể. Khi tôi cởi bỏ đôi giày cao gót mang dáng dấp thị thành, đặt bàn chân mình xuống bãi bờ ngát xanh màu cỏ, nghe cảm giác ram ráp quen thuộc từ những bước chân đầu đời cứa vào da thịt, thốt nhiên, tôi thấy lòng mình lại trở nên vững chãi. Chạng vạng chiều, con thuyền nhỏ thảnh thơi nằm ghé mình an lành bên bờ ruộng, những đốm trắng vẫn lò dò trên những thảm lúa xanh, nước vỗ vào bờ ì oạp những âm thanh thân thuộc. Có phải vì thương đứa con của đồng ruộng, mà thành phố này cưu mang luôn cả những nỗi niềm, chiều lòng tôi bằng những thung lũng mướt xanh cỏ lúa? Chỉ cần giả vờ đãng trí, rẽ xuống một con dốc, quanh co qua vài lối rẽ, là tôi lại có thể gối lòng mình lên xanh mát bãi bờ.

Tôi hiểu lòng mình, dẫu có gửi mình bao nhiêu thời gian nữa vào phố thị, tôi vẫn muôn đời là đứa con sinh ra từ đồng ruộng. Và bởi đồng ruộng có mẹ tôi. Dẫu có ở đâu chăng nữa, mẹ tôi cũng gắn mình với đất bùn và cỏ lúa, như thể đó là sinh mạng của mẹ. Nghĩ đến mẹ là tôi nghĩ đến ruộng đồng, và nhìn thấy ruộng đồng, tôi như nhìn thấy mẹ. Nghĩ đến một ngày mai, tôi được thức dậy cùng mẹ, lui cui nhóm bếp lửa hồng, ngồi nghe ấm nước lục bục sôi trong ngan ngát hương đồng, nhìn bàn tay nhuốm vàng phèn chua của mẹ rót chén nước trà nóng còn ám cả mùi khói, lòng tôi an yên biết bao nhiêu.

Tổ tiên tôi bao đời đã sinh ra từ đồng ruộng, được đồng ruộng nuôi dưỡng, rồi khi nhắm mắt lại trở về với ruộng đồng. Người sống và người đã khuất, đời đời kiếp kiếp quấn quýt với nhau trên đồng ruộng. Và tôi, không thể vẽ lại đồng ruộng bằng những nét cọ đầy ứ sắc màu, cũng không thể cất lên những lời ca mênh mang về cỏ lúa, nên tôi đành im lặng. Bởi tôi biết, với tôi, sự tĩnh lặng trước ruộng đồng, chính là lời hát thiết tha nhất để bày tỏ lòng biết ơn vô hạn của mình về nơi mà mình được sinh ra.

Bế mạc Trại sáng tác văn học nghệ thuật khu vực Tây Nguyên tại Đà Nẵng

Ngày 15/7/2019 tại Nhà sáng tác Đà Nẵng, Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật Việt Nam đã tổ chức bế mạc Trại sáng tác văn học nghệ thuật Khu vực Tây Nguyên.

Dự bế mạc có ông Đỗ Kim Cuông - Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật Việt Nam, ông Nguyễn Song Hiển - Giám đốc Nhà sáng tác Đà Nẵng, cùng các thành viên tham gia Trại sáng tác.

Tại buổi bế mạc, ông Nguyễn Song Hiển đã phát biểu đánh giá công tác tổ chức Trại sáng tác; ông Hoàng Quốc Việt - Trưởng đoàn đã báo cáo đánh giá tổng kết các hoạt động sáng tác; đồng thời đã thay mặt các thành viên đánh giá cao sự quan tâm, tạo điều kiện của cán bộ, nhân viên Nhà sáng tác Đà Nẵng giúp Trại sáng tác hoàn thành tốt nhiệm vụ.Trại sáng tác đã diễn ra từ ngày 02/7/2019 đến hết ngày 15/7/2019 với sự tham gia của 14 văn nghệ sĩ thuộc khu vực Tây Nguyên.

Trong thời gian tổ chức Trại sáng tác, các văn nghệ sỹ đã tổ chức đi thực tế sáng tác tại các bảo tàng, các di tích, danh thắng và các làng nghề truyền thống trên địa bàn Đà Nẵng và Hội An để lấy tư liệu sáng tác.

bemaclienhiepvhntvnt7 2019

Các tác giả đã sáng tác được 91 tác phẩm, trong đó có: 61 tác phẩm văn học và 30 tác phẩm nhiếp ảnh.

LỜI CÂY ĐÀN TÍNH - Tản văn của Lã Vinh – Hội văn học nghệ thuật Cao Bằng

Tản văn của Lã Vinh – Hội văn học nghệ thuật Cao Bằng, sáng tác tại Nhà sáng tác Đà Lạt tháng 3/2019.

LỜI CÂY ĐÀN TÍNH

Lã Vinh

Nhà tôi ở gần làng Nghệ sỹ ưu tú Quỳnh Nha, vùng đất của những làn điệu Náng ới, Vang Dà, Hà Lều, đàn then…Thời còn nhỏ mỗi khi chị về thăm quê hay cùng đoàn văn công Cao Bằng về biểu diễn; già, trẻ nam nữ ai cũng háo hức đi xem. Mỗi lần như thế chị Quỳnh Nha thường nán lại với cây đàn tính hát cho cả làng nghe

Cây đàn tính quê em. Đã theo anh đi khắp chiến trường.

Trên đỉnh Trường Sơn ngàn lời ca em hát. Nghe ngọt ngào ấm áp thuỷ chung.

Tiếng đàn ấy, lời ca ấy đã từng bao lần ngân lên trên làn sóng Đài tiếng nói Việt Nam, nghe sao mà tha thiết, mượt mà ấm áp tình quê. Mỗi lần nghe chúng tôi lại lâng lâng cảm xúc xen lẫn tự hào: Cây đàn tính nhỏ bé khiêm nhường mà cũng vượt Trường Sơn đi đánh giặc giữ nước. Sau này chị Quỳnh Nha còn cho biết: Cây đàn tính đã cùng chị đi biểu diễn ở nước ngoài, chị được nhiều huân huy chương và danh hiệu Nghệ sỹ ưu tú cũng nhờ cây đàn tính ấy.

Thế nhưng cho đến nay cũng chưa ai biết chính xác cây đàn tính quê tôi có từ bao giờ. Các nghệ nhân đàn tính thì giải thích một cách nôm na rằng: Nó phải có từ thời con người biết trồng cây Bầu để có thể lấy vỏ bầu làm hộp đàn, thân đàn là thứ cây rừng mảnh mai thó mịn dẻo dai đủ căng dài ba sợi tơ mềm mại… Đó là những chất liệu tự nhiên gần gũi gắn bó với người lao động chân quê.

Theo các nhà nghiên cứu văn hoá dân gian thì thế kỷ 15-16 vương triều nhà Mạc lên Cao Bằng đã đam mê cây đàn tính và làn điệu hát then do ông Bế Văn Phùng ở Hoà An (miền Tây) và ông Nông Quỳnh Vân ở Trùng Khánh (miền Đông) trình diễn để giải khuây, giải hạn, không ngờ giúp vua khỏi được căn bệnh trầm cảm, u sầu. Nhà vua quyết định đưa vào thành loại nhã nhạc cung đình và phong cho ông Bế Văn Phùng làm Tư thiên quản nhạc. Từ đó đàn tính hát then hoà quyện thành một và có dịp phổ biến lưu truyền rộng rãi, trở thành hồn thiêng của văn hoá dân tộc Tày Nùng, tựa như trống chèo của đồng bằng sông Hồng, quan họ của vùng Kinh Bắc hay đàn ca tài tử của người dân Nam Bộ. Nhưng đàn tính không chỉ là đạo cụ âm nhạc mà còn là khí cụ của văn hoá tâm linh, được các ông bà Giàng then, Bụt tính sử dụng để cầu yên giải hạn, nối số gọi hồn cho người già con trẻ. Không biết linh thiêng ứng nghiệm thế nào nhưng với góc nhìn văn hoá thì đây là phép chữa bệnh tinh thần được mọi người mặc nhiên thừa nhận, rồi ăn sâu vào tiềm thức và tập quán dân tộc.

Hiện nay trong xu thế phát triển và hội nhập quốc tế, văn hoá phát triển ngày càng phong phú đa dạng, mở ra cơ hội giao lưu tiếp xúc với nhiểu nền văn hoá và dòng âm nhạc hiện đại. Song hát then đàn tính vẫn không thể thiếu được trong đời sống văn hoá tâm linh và cả sinh hoạt hàng ngày của nhân dân các dân tộc Cao Bằng.

Trong các lễ hội văn hoá dân tộc của Cao Bằng, lễ hội qua miền di sản văn hoá của các tỉnh Việt Bắc, biểu tượng cây đàn tính luôn được treo lên những vị trí trang trọng. Các chương trình văn hoá văn nghệ từ chuyên nghiệp đến nghiệp dư, dù tổ chức ở thành phố hay thị trấn, làng quê..các tiết mục có sử dụng đàn tính điệu then vẫn chiếm thời lượng đến một nửa nội dung chương trình. Tiếng đàn tính dập dìu từ những nếp nhà sàn, bay bổng qua những cánh rừng xanh thẳm, ngân nga bên dòng suối trong veo đã trở thành hình ảnh quen thuộc và sức sống tâm hồn của quê hương non nước Cao Bằng.

Lời cây đàn tính đã theo các nghệ nhân đi biểu diễn ở khắp trong nước và ngoài nước. Âm thanh trong trẻo của nó đã vang xa làm lay động lòng người. Nét độc đáo của đàn tính điệu then đã góp phần nâng cánh cho những con em dân tộc Cao Bằng như Quỳnh Nha, Dương Liễu, Kim Tuế, Xuân Ái trở thành những nghệ sỹ ưu tú, nghệ sỹ nhân dân.

Người Cao Bằng đi vào các tỉnh miền Nam ngoài hành trang mưu sinh cuộc sống vẫn mang theo mình cây đàn tính, những dịp sinh hoạt cộng đồng tiếng đàn cất lên nhẹ nhàng thanh thoát. Còn trong các buổi chầu then, tiếng then réo rắt giục giã lạ thường, tạo nên những phút thăng hoa huyền bí, đắm say làm cho người nghe phải trầm trồ thán phục. Tại thành phố Bà Rịa Vũng Tàu có hẳn một câu lạc bộ hát then đàn tính. Tại Đắc Lắc, Gia Lai, Kon Tum, Bình Phước…ở đâu có người Cao Bằng thì ở đó có tiếng then đàn tính.Ở Lâm Đồng tận nơi Đà Tẻ, Cát Tiên, đêm xuống mấy chục hộ gia đình quây quần hát then đàn tính. Ba sợi dây tơ dập dìu Tàng Nậm Tàng Bốc ngân lên trong không gian mênh mông nơi vùng đất mới, man mác niềm thương nỗi nhớ quê hương. Cây đàn tính trở thành sứ giả giao lưu quảng bá văn hoá, tự nhiên hoà nhập, thấm dần và lưu lại trên mọi vùng quê hương đất nước.

Tháng 3 Tây Nguyên, tại Nhà sáng tác Đà Lạt, trong buổi giao lưu chúng tôi đã cùng hát lên ca khúc: Cây đàn tính dây trong dây đục/ Ăn cơm lam mấy khúc/ Áo tơ tằm em dệt bền lâu…Nhớ lại những năm kháng chiến nhạc sỹ Hoa Cương đã thầm nhắn gửi: Từ Việt Bắc quê hương/ gửi tới người thương tiếng tính tiếng then. Dù rằng em hát chưa hay/ khi chiến thắng anh về..chào mùa xuân đất nước em lại hát đón anh…Ca khúc được sáng tác theo làn điệu then tính ấy đã từng một thời vang xa. Và ca khúc nổi tiếng Tiếng hát giữa rừng Pắc Bó của nhạc sỹ Nguyễn Tài Tuệ là âm hưởng của làn điệu then Tày. Với bề dày lịch sử, bản sắc độc đáo và cả những thành công trong văn hoá nghệ thuật, Then Tính của đồng bào các dân tộc Việt Bắc đã được đệ trình lên UNESCO công nhận là di sản văn hoá phi vật thể. Then Tính Cao Bằng đã trở thành niềm tự hào của nền văn hoá dân tộc. Niềm tự hào đó được nuôi dưỡng động viên khuyến khích lớp trẻ hôm nay theo học đàn tính; nhiều địa phương làng xã ở Hà Quảng, Hoà An, Thạch An, thành phố Cao Bằng..vẫn duy trì các đội văn nghệ hoặc câu lạc bộ hát then đàn tính.

Ông cha ta từng nói Văn hoá còn thì dân tộc ta còn. Bản sắc văn hoá dân tộc là tài sản thiêng liêng vô giá. Non nước Cao Bằng đã được thế giới công nhận là Công viên địa chất toàn cầu. Cùng với cảnh sắc hùng vĩ của thiên nhiên ban tặng, Cao Bằng còn có sản phẩm tinh thần độc đáo do con người tạo ra. Tiếng tính tiếng then chính là biểu tượng văn hoá đặc sắc, đã và đang hoà nhập với dòng chảy văn hoá Việt Nam; văn hoá nhân loại; nhưng bản sắc riêng sẽ mãi mãi trường tồn bởi còn đó bao lớp người yêu say tiếng tính, tiếng then. Còn đó những người miệt mài chăm chút làm ra cây đàn mộc mạc đơn sơ thuần khiết và những nghệ nhân nghệ sỹ nhiệt huyết truyền nghề cho thế hệ trẻ hôm nay mai sau… Hy vọng họ là những người luôn gìn giữ vun trồng cho hồn cây đàn tính tiếp tục ngân cao, vang xa cùng với nền văn hoá giàu bản sắc của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

Subscribe to this RSS feed

TRỤ SỞ CHÍNH - VŨNG TÀU

TRỤ SỞ CHÍNH - NHA TRANG

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ - TRUNG TÂM HỖ TRỢ SÁNG TÁC VĂN HỌC NGHỆ THUÂT
Địa chỉ : 1A Hoa Lư, Phường Lê Đại Hành- Thành phố Hà Nội
Điện thoại : 0243.974.5763
Bản quyền thuộc về Trung tâm Hỗ trợ Sáng tác VHNT. Yêu cầu trích nguồn khi đăng tải nội dung từ trang web này